KÍ ỨC VỀ CHIẾN TRANH VÀ NHỮNG BIỂU ĐẠT GIỚI CỦA PHỤ NỮ THỜI CHIẾN: ĐỌC TIỂU THUYẾT ĐÀN BÀ CỦA LÝ LAN

Các tác giả

  • Đặng Thị Bích Hồng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam
  • Vi Khiêm Trường Đại học Ngoại ngữ Quảng Tây, Quảng Tây, Trung Quốc

DOI:

https://doi.org/10.18173/2354-1067.2026-0044

Từ khóa:

chiến tranh, văn học chiến tranh, kí ức, phụ nữ, Lý Lan, Tiểu thuyết đàn bà

Tóm tắt

Tiểu thuyết đàn bà của nữ văn sĩ người Việt gốc Hoa Lý Lan là tác phẩm viết về mối liên hệ giữa chiến tranh, phụ nữ và kí ức. Bài viết dựa trên các phương pháp nghiên cứu trường hợp, lịch sử xã hội, phân tích văn bản để tiếp cận vấn đề kí ức chiến tranh và những khuôn mặt phụ nữ thời chiến được tái hiện trong cuốn tiểu thuyết này. Từ góc nhìn đó, bài viết chỉ ra rằng, kí ức chiến tranh gắn với các không gian chiến trường, hậu phương, lao tù được mô tả như là bối cảnh để trình hiện những câu chuyện của nữ giới về bạo lực, mất mát, về gia đình, tình yêu, lẽ sống. Đó cũng cách nhà văn Lý Lan trả lại vị trí cho những trải nghiệm nữ giới ở khu vực văn học chiến tranh – những trải nghiệm từng bị lãng quên suốt nhiều thế kỉ bởi sự thống trị của các quan điểm thuộc về nam giới.

Tài liệu tham khảo

- Bass, T. A. (2003). Vietnamerica: Chiến tranh vẫn đang hồi hương. NXB Soho. (In English: Bass, T. A. (2003). Vietnamerica: The War Comes Home. Soho Press).

- Đặng, T. T. H. (2025). “Những lối kể khác về chiến tranh ở Việt Nam nhìn từ trường hợp các cây bút nữ”. Chiến tranh và người lính: Những tiếp cận liên văn hóa. Kỉ yếu HTKH Quốc tế. NXB Văn học, Hà Nội, 200–209.

- Đỗ, H. N. (cb, 2018). Tự sự học về chiến tranh trong văn học Việt Nam đương đại. NXB Lao động.

- Enloe, C. (1983). Màu kaki có hợp với bạn không? Tình trạng quân sự hóa cuộc sống của nữ giới. NXB Pluto. (In English: Enloe, C. (1983). Does Khaki Become You? The Militarization of Women’s Lives. London: Pluto Press).

- Enloe, C. (1990). Chuối, bãi biển và căn cứ: Chính trị quốc tế từ góc nhìn nữ quyền. NXB Đại học California. (In English: Enloe, C. (1990). Bananas, Beaches and Bases: Making Feminist Sense of International Politics. Berkeley: University of California Press).

- Farrell, S. (2003). “Tim O'Brien và vấn đề giới: một biện giải về Những thứ họ mang”. Phê bình CEA, 66(1), 1–21. (In English: Farrell, S. (2003). “Tim O'Brien and Gender: A Defense of The Things They Carried.” CEA Critic, 66(1), 1–21. Literature Resources from Gale. Web. 30 May 2011).

- Lê, T. H. (2014). “Chiến tranh qua cảm thức nữ giới”. Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 792.

- Lê, H. T. (2020). “Chiến tranh nhìn từ truyện ngắn của một số cây bút nữ”. http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/chien-tranh-nhin-tu-truyen-ngan-cua-mot-so-cay-but-nu_11007.html

- Lý, L. (2011). Tiểu thuyết đàn bà. NXB Văn hóa – Văn nghệ.

- Ngô, T. K. C. (2011). “Những người đàn bà bị thất lạc”. Trong Tiểu thuyết đàn bà. NXB Văn hóa – Văn nghệ, Hà Nội, 216–218.

- O’Brien, T. (2009). Những thứ họ mang. Boston: First Mariner Books. Print. (In English: O’Brien, T. (2009). The Things They Carried. Boston: First Mariner Books. Print).

- Phạm, V. Đ. (2010). “Lời tựa”. Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862–1975 (Nguyễn Đình Thống, Nguyễn Linh, Hồ Sĩ Hành biên soạn). NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh.

- Reardon, B. (1985). Phân biệt giới tính và hệ thống chiến tranh. NXB Sư phạm, Trường Đại học Columbia. (In English: Reardon, B. (1985). Sexism and the War System. New York: Columbia University, Teachers College Press).

- Thái, P. V. A. (2024). “Nữ giới và chiến tranh nhìn từ văn xuôi hậu chiến Việt Nam”. https://lyluanphebinh.vn/tin-tuc/nghien-cuu-trao-doi/2669/nu-gioi-va-chien-tranh-nhin-tu-van-xuoi-hau-chien-viet-nam

- Woolf, V. (1938). Ba đồng ghi-nê. NXB Harcourt, Brace and Company. (In English: Woolf, V. (1938). Three Guineas. New York: Harcourt, Brace and Company).

Tải xuống

Đã Xuất bản

2026-07-15

Số

Chuyên mục

Bài viết

Cách trích dẫn

Thị Bích Hồng Đặng, & Khiêm, V. (2026). KÍ ỨC VỀ CHIẾN TRANH VÀ NHỮNG BIỂU ĐẠT GIỚI CỦA PHỤ NỮ THỜI CHIẾN: ĐỌC TIỂU THUYẾT ĐÀN BÀ CỦA LÝ LAN. Tạp Chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Khoa học Xã hội, 71(3), 51-59. https://doi.org/10.18173/2354-1067.2026-0044