ĐẠO ĐỨC SINH THÁI: CHẤN THƯƠNG VÀ CHỮA LÀNH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VIẾT VỀ THIẾU NHI

Các tác giả

  • Trần Thị Ánh Nguyệt Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng, Việt Nam

DOI:

https://doi.org/10.18173/2354-1067.2026-0010

Từ khóa:

chấn thương, đạo đức sinh thái, chữa lành, văn học thiếu nhi, văn xuôi Việt Nam đương đại

Tóm tắt

Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương và thường phải chịu tổn hại từ nhiều phía trong một xã hội đầy bất ổn. Với tâm hồn thuần khiết, ngây thơ, sáng trong, các em thường tìm đến loài vật và cỏ cây như những người bạn để chữa lành nỗi đau. Biết lắng nghe tiếng muôn vật để đối thoại với nó, trẻ em cũng tạo ra một môi trường sinh thái nhân văn làm nền tảng cho sự sống của nhân loại. Vận dụng lí thuyết chấn thương kết hợp với phê bình sinh thái bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa chấn thương, sinh thái và ngôn ngữ, nơi những đứa trẻ yếu đuối thường rơi vào tình trạng “mất lời”. Đồng thời, chúng tôi phân tích hiện tượng “chấn thương kép”, khi sự mất mát về tình cảm cộng hưởng với sự đổ vỡ sinh thái, khiến trẻ em rơi vào trạng thái cô đơn và bơ vơ. Từ đó, bài viết khẳng định sự cần thiết của việc kiến tạo đạo đức sinh thái như một con đường để chữa lành, giúp con người hướng đến đời sống an nhiên và hạnh phúc.

Tài liệu tham khảo

[1] C Caruth, (2018), “Vết thương và giọng nói”. Hải Ngọc dịch "hải ngọc's Weblog," 8/12/2012. [Online]. Available: https://hieutn1979.wordpress.com/2012/12/08/cathy-caruth-vet-thuong-va-giong-noi/.

[2] A Gotlib, (2021), "Chấn thương và chuyện kể”, Hải Ngọc dịch.," 1/3/2021. [Online]. Available: https://hieutn1979.wordpress.com/2021/01/03/anna-gotlib-chan-thuong-va-chuyen-ke/.

[3] Hartman GH, (1994). Holocaust Remembrance: The Shapes of Memory. Oxford & Cambridge: Blackwell.

[4] Caruth C, (1995). Trauma: Explorations in memory. Baltimore and London: John Hopkins.

[5] Stephen Owen DD, (2016). Lí thuyết và ứng dụng lí thuyết trong nghiên cứu văn học, Trần Hải Yến (biên tập). Hà Nội: Khoa học Xã hội.

[6] Amorok T, (2007). “The Eco-Trauma and Eco-Recovery of Being.” . In Shift: At the Fron tiers of Consciousness 15 (June–August 2007) (pp. 28–31).

[7] Narine A, (2015). Eco-trauma cinema. New York: Routledge.

[8] Reynolds K, (2024). Nhập môn văn học trẻ em, Phạm Phương Chi, Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Thị Diệu Linh dịch. Hà Nội: Văn học.

[9] LT Anh, (2014). Từ trường hợp Đoàn Minh Phượng, nghĩ về văn học chấn thương Việt Nam và quan điểm nghiên cứu. Retrieved 8/20/2025, from Khoa Văn học: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ly-luan-va-phe-binh-van-hoc/4617-t-trng-hp-oan-minh-phng-ngh-v-vn-hc-chn-thng-vit-nam-va-qun-im-nghien-cu.html

[10] CK Lan, (2019). Chấn thương kép trong Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh. Tạp chí Nghiên cứu văn học, 2(564), 22-43.

[11] ĐP Lan, (2024). “Chấn thương di dời” trong một số truyện ngắn Việt Nam hải ngoại sau 1975. Retrieved from Hội Nhà Văn Việt Nam: https://vanvn.vn/chan-thuong-di-doi-trong-mot-so-truyen-ngan-viet-nam-hai-ngoai-sau-1975/

[12] NH Anh, (2024). Hoài niệm và căn tính của cộng đồng di dân Việt Nam trong tác phẩm của Nguyễn Thanh Việt. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 69(1), 64-74. doi:http://stdb.hnue.edu.vn/portal/journals.php?articleid=23078

[13] NBT Nhân & BT Truyền, (2024). Song đề chấn thương và chữa lành trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ ở Nam Bộ đầu thế kỉ XXI. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí mInh, 21(5), 896 - 907. doi:https://doi.org/10.54607/hcmue.js.21.5.4265(2024)

[14] ĐH Oanh, (2022). Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay từ cách đọc chấn thương, luận án tiến sĩ. Đại học Sư phạm Hà Nội.

[15] LTB Lí, (2013). Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non. Hà Nội: Đại học Sư Phạm Hà Nội.

[16] NV Long chủ biên, (2010). Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập 2. Hà Nội: Đại học Sư Phạm Hà Nội.

[17] LV Trung, (2024). Cảm quan sinh thái trong truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài. Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 69(2), 80 - 86. doi:http://stdb.hnue.edu.vn/portal/journals.php?articleid=23164

[18] TĐN Hương, (2025). Trình hiện tuổi hoa: một mố thể nghiệm tiếp cận văn học thiếu nhi. Hà Nội: Văn học.

[19] TĐN Hương, (2024). Không gian xứ Quảng qua truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh nhìn từ phê bình cảnh quan. In Nhiều tác giả, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia: Văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX (pp. 330-346). Huế: Nhà xuất bản Đại học Huế.

[20] Rato M, (2024). Ecopedagogy, War Memories, and Sensory Experiences of Nature. In C. P. Edited by Ursula K. Heise, Contemporary Vietnamese Children’s Literature. Environment and Narrative in Vietnam (pp. 165-180). Cham: Springer Nature.

[21] Hunt; (1994). An Introduction to Children’s Literature, Peter Hunt ed. London and New York: Routledge.

[22] Nodelman; (2008). The Hidden Adult: Defining Children’s Literature. Maryland: Johns Hopkins University Press.

[23] Nikolajeva, M, ( 2014). Reading for Learning: Cognitive Approaches to Children's Literature. John Benjamins.

[24] NM Châu, (2009). Tuyển tập truyện ngắn. Hà Nội: Văn học.

[25] LL Oanh, ĐT Doanh, (2010, 11). Tư duy đồng thoại trong thơ hiện nay. Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, 190. Retrieved from https://leluuoanh.wordpress.com/2011/05/13/t%c6%b0-duy-d%e1%bb%93ng-tho%e1%ba%a1i-trong-th%c6%a1-hi%e1%bb%87n-nay/

[26] Rigby K, (2014). Phê bình sinh thái trong bối cảnh khủng hoảng môi trường toàn cầu ”, Đặng Thị Thái Hà dịch. In Hoàng Tố Mai chủ biên, Phê bình sinh thái là gì ? (pp. 50-105). Hà Nội: Hội Nhà văn.

[27] Fontenay ED, (2013). Khi con vật nhìn ta, Hoàng Thanh Thủy dịch. Hà Nội: Tri Thức .

[28] Manes C, (1996). Nature and Silence. In &. H. Glotfelty C., The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology (p. 15 30). University of Georgia Press.

[29] NN Tư, (2009). Gió lẻ và 9 câu chuyện khác. Thành phố Hồ Chí Minh: Trẻ.

[30] Freud, S, (2022). Nghiên cứu phân tâm học, Vũ Đình Lư dịch. Hà Nội: Thế giới.

[31] NN Tư, (2010). Cánh đồng bất tận. Thành Phố Hồ Chí Minh: Trẻ.

[32] Caruth C, (1996). Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, History. Baltimore and London: Johns Hopkins University Press..

[33] Fukuyama F, (2013). Tương lai hậu nhân loại: Hậu quả của cách mạng công nghệ sinh học. Hà Hải Châu dịch. TP Hồ Chí Minh: NXB Trẻ..

[34] Woolbright L, (2011). Wounded Planet, Wounded People: The Possibility of Ecological Trauma. Luận văn thạc sĩ. Đại học Clemson.

[35] Berger J, (2017). Tại sao phải nhìn những con vật? Đặng Thị Thái Hà dịch và tổng thuật. In In Hoàng Tố Mai chủ biên, Phê bình sinh thái là gì ? (pp. 178 - 210). Hà Nội: Hội Nhà văn.

[36] TD Anh, (2008). Ngày hội cuối cùng. Đồng Nai.

[37] H Phương. Tiếng rừng. In Truyện ngắn được giải báo Văn nghệ 1995 – 2004. Trần Huy Quang (tuyển) (pp. 21-36). Hà Nội: Thanh Niên.

[38] N Hoa, Q Hương, ĐB Thúy, (2006). Truyện ngắn ba cây bút nữ. Hà Nội: Phụ nữ.

[39] NN Tư, (2010). Khói trời lộng lẫy. Thành phố Hồ Chí Minh: Thời đại.

[40] Leopold A, (2020). Niên lịch miền gió cát, Dương Mạnh Hùng dịch. Thành phố Hồ Chí Minh: Lao động - Xã hội.

[41] Attenborough D, (Director), (2014). Conserving Wonder [Motion Picture]. Retrieved from https://www.youtube.com/watch?v=ImZhcNIL07s.

[42] NH Thiệp, (1996). Truyện ngắn chọn lọc, Hà Nội: Hội Nhà văn.

[43] NN Thuần, (2012). Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ. Thành phố Hồ Chí Minh: Trẻ.

[44] NN Ánh, (2022). Ngồi khóc trên cây. Thành phố Hồ Chí Minh: Trẻ.

[45] Vạn Thiện Tiên Tư, (2015). Khuyên người bỏ sự giết hại. Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải. Hà Nội: Tôn giáo.

[46] Q Hương, (2004). 27 truyện ngắn Quế Hương. Hà Nội: Phụ nữ.

[47] Garrard G, (2004). Ecocriticism (The New Critical Idiom). Massachusetts: Routledge.

Tải xuống

Đã Xuất bản

2026-02-25

Số

Chuyên mục

Bài viết

Cách trích dẫn

Thị Ánh Nguyệt, T. (2026). ĐẠO ĐỨC SINH THÁI: CHẤN THƯƠNG VÀ CHỮA LÀNH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VIẾT VỀ THIẾU NHI. Journal of Science Social Science, 71(1), 104-115. https://doi.org/10.18173/2354-1067.2026-0010